Sư Đoàn Nhảy Dù

Following the partition of Vietnam, these units were consolidated into the Airborne Group (1955) and later the Airborne Brigade (1959).

Tiền thân của Sư đoàn Nhảy dù là các đại đội nhảy dù biệt lập được thành lập từ những năm 1948 - 1949 dưới thời Pháp. Sau hiệp định Genève năm 1954, các đơn vị này được tập hợp lại để hình thành nên Liên đoàn Nhảy dù vào năm 1955.

The division specialized in :

Dù cuộc chiến đã khép lại, nhưng những câu chuyện về tình đồng đội, sự quả cảm và những chiến thuật nhảy dù vẫn luôn là một đề tài quan trọng đối với các nhà nghiên cứu lịch sử quân sự thế giới khi nhắc về chiến tranh Việt Nam.

| Component | Details | |-----------|---------| | | Command, staff, signal, and reconnaissance elements. | | 3 Airborne Brigades | Each brigade commanded 3 battalions. | | 9 Airborne Battalions | The core maneuver units (e.g., 1st, 2nd, 3rd, 5th, 6th, 7th, 8th, 9th, 11th Battalions). | | Artillery Battalion | 105mm howitzers (air-transportable). | | Engineer Battalion | Combat engineers trained for demolition and obstacle clearing. | | Medical Battalion | Paratrooper medics (often jumped with troops). | | Logistics/Support | Supply, maintenance, and transportation. | sư đoàn nhảy dù

Based primarily at in Saigon, the division was designed for rapid deployment anywhere in the country via transport aircraft like the C-130.

Là lực lượng tổng trừ bị, SĐND không trấn giữ một vùng cố định mà di chuyển khắp bốn vùng chiến thuật. Họ thường xuyên thực hiện các cuộc nhảy dù bủa vây địch hoặc trực thăng vận vào lòng chảo chiến tranh. Following the partition of Vietnam, these units were

A full-strength ARVN Airborne Division consisted of approximately .

Sư đoàn nhảy dù là một đơn vị quân sự chuyên về nhảy dù và các hoạt động đặc biệt. Sư đoàn này thường được trang bị vũ khí và thiết bị hiện đại, và được đào tạo để thực hiện các nhiệm vụ như: The division specialized in : Dù cuộc chiến

Sư đoàn nhảy dù thường bao gồm các đơn vị nhỏ hơn như: